Xứng danh dòng tộc - Tự hào tổ tiên

Hệ tộc Nguyễn Tri

Trang chủ Nguyễn Tri Phương

Tiểu sử ngài Nguyễn Tri Phương - Trang 3

Email In
Chỉ mục bài viết
Tiểu sử ngài Nguyễn Tri Phương
Trang 2
Trang 3
Tất cả các trang

Đánh giá, nhận xét

Tấm gương quên mình vì nước của ông được nhân dân khâm phục, kính trọng, ông được thờ trong đền Trung Liệt (cùng với Hoàng Diệu) trên gò Đống Đa với câu đối:

Thử thành quách, thử giang sơn, bách chiến phong trần dư xích địa
Vi nhật tinh, vi hà nhạc, thập niên tâm sự vọng thanh thiên[11]

Dịch:

Kia thành quách, kia non sông, trăm trận phong trần còn thước đất
Là trời sao, là sông núi, mười năm tâm sự với trời xanh

Khen thưởng

Năm Canh Tý (1840), Khâm sai quân thứ đại thần, hàm Tòng Hiệp Biện Đại học sĩ rồi được thưởng danh hiệu "An Tây trí dũng tướng".

Tháng 5 năm 1847, thăng hàm Chánh Hiệp biện đại học sĩ, tước Tráng Liệt tử và được ban một Ngọc bài có khắc bốn chữ "Quân kỳ thạc phụ", được chép công trạng vào bia đá ở Tòa Võ miếu Huế.

Năm Canh Tuất (1850), vua Tự Đức ban tên Nguyễn Tri Phương, chức Khâm sai Tổng thống Quân vụ Đại thần kiêm Tổng đốc các tỉnh Gia Định, Biên Hòa, Vĩnh Long, Định Tường, An Giang, Hà Tiên.

Năm 1853, thăng Điện hàm Đông các Đại học sĩ. Năm 1862, thăng chức Võ Hiển Đại học sĩ, tước Tráng Liệt Bá. Hàm Thái tử Thái bảo Võ hiển điện Đại học sĩ Trí dõng tướng Tráng liệt bá (1871).

Quan phục của tổng đốc Hà Nội Nguyễn Tri Phương do người Pháp lấy sau khi họ chiếm thành Hà Nội. Hiện vật của Bảo tàng Quân sự Pháp tại Les Invalides.
Quan phục của tổng đốc Hà Nội Nguyễn Tri Phương do người Pháp lấy sau khi họ chiếm thành Hà Nội. Hiện vật của Bảo tàng Quân sự Pháp tại Les Invalides.

Thơ ca

Sinh thời, Nguyễn Tri Phương rất ít làm thơ, nhưng năm 1866, nhân tiễn Phan Thanh Giản vào Nam nhậm chức, ông có bài thơ tặng Kinh lược sứ Phan Thanh Giản:

Ven ngàn góc bể dặm chơi vơi,
Vui tỏ phân nhau một bước đời.
Cá lại Long giang hai ngã nước,
Nhạn về du hợp một phương trời.
Nửa hồ cố cựu trông lai lảng,
Cạn chén tư hương gió lộng khơi.
Hãy kịp Tràng An mau trở lại,
Thăm người viếng cảnh hỡi người ơi!

Ghi chú

1. Có sách chép năm 1779
2. Lấy ý câu chữ "Dõng thả Tri Phương", nghĩa là Dũng mãnh mà lắm mưu chước.
3. Trần Trọng Kim, Việt Nam sử lược, Chương 7
4. Bấy giờ còn được gọi là thành Phụng.
5. McAleavy, trang 129
6. McAleavy, trang 129
7. McAleavy, trang 133
8. Phò mã Nguyễn Lâm (1844-1873) là con trai thứ hai của Nguyễn Tri Phương, quê tại Thừa Thiên, ham học, siêng năng, tính tình khiêm cung, được vua Tự Đức gả em gái là công chúa Đông Xuân và phong cho chức Phò mã đô úy. Ông đang ra Hà Nội thăm cha thì quân Pháp đánh thành, ông chỉ huy giữ cửa đông nam, đúng hướng quân Pháp tấn công vào thành. Sau khi qua đời, ông được triều đình truy tặng Binh bộ tả thị Lang, thờ vào đền Trung Nghĩa.
9. Theo báo điện tử Bình Dương [1]
10.Theo Nguyễn Q. Thắng và Nguyễn Bá Thế, Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam, NXB KHXH, Hà Nội, tr.664
11.Có tài liệu chép "...thập niên tâm sự hữu thanh thiên"

Theo wikipedia.org



Lần cập nhật cuối ( Thứ sáu, 26 Tháng 10 2012 06:43 )  

Mạng xã hội

Thăm dò

Website này có hữu ích không?
 

Tài trợ

SweetSoft Solutions Ltd.
Hương Vị Nấm
Công ty Thăng Long

Bài mới nhất

Bài xem nhiều nhất

Danh ngôn

  • Bây giờ nếu ta chỉ gắng lây lất mà sống, sao bằng thung dung chết về việc nghĩa - Nguyễn Tri Phương
  • Không thành công cũng thành nhân. - Nguyễn Thái Học
  • Dẫu có bạc vàng trăm vạn lạng. Chẳng bằng kinh sử một vài kho. - Lê Quý Đôn
  • Tự biết mình là người sáng suốt. Thắng được người là có sức mạnh. Thắng được mình là kiên cường. - Lão Tử