Xứng danh dòng tộc - Tự hào tổ tiên

Hệ tộc Nguyễn Tri

Trang chủ Thông tin Nhớ Nguyễn Tri Phương, cùng vài trang sử buồn xa cũ… - Trang 4

Nhớ Nguyễn Tri Phương, cùng vài trang sử buồn xa cũ… - Trang 4

Email In
Chỉ mục bài viết
Nhớ Nguyễn Tri Phương, cùng vài trang sử buồn xa cũ…
Trang 2
Trang 3
Trang 4
Trang 5
Trang 6
Trang 7
Trang 8
Tất cả các trang

3/Nêu vài ý nhỏ về việc thất thủ này:

Sau khi đại đồn Chí hòa thất thủ, tướng Nguyễn Tri Phương, Tôn Thất Cáp và Phạm Thế Hiển đều bị cách chức và ghép tội “trảm giam hậu”, sau được xét giảm nên chỉ bị giáng chức.

Vào tháng 9 âm lịch năm 1867, theo Quốc triều chánh biên, tr 348, triều đình Huế định xử lại vụ án này, nhưng về sau rồi bỏ qua vì cạn cùng mà nói kẻ chịu trách nhiệm chính, không ai khác hơn đó là cả một triều đình thiển cận và bất lực…

Trở lại vấn đề, theo tôi việc phòng chống giặc của lão tướng nhiều kinh nghiệm trận mạc như Nguyễn Tri Phương có vài điểm cần bàn:

-Như đã biết địch mạnh ở pháo binh nên các đồn đất hay đá ở Đà Nẵng, Gia Định đều không chịu nổi đại bác; vậy mà ông lại tập trung hàng ngàn quân trong một “cái rọ” to lớn ấy để chờ Tây đến,( tôi nhắc lại, lúc đầu chúng chỉ khoảng 800 người) mà không biết phối hợp mọi thành phần, mọi lực lượng để mở các cuộc tập kích lớn nhỏ ở khắp nơi, bất kể ngày đêm, cầm chân và làm tiêu hao bọn chúng về nhiều mặt!

-Như ông để phía sau lưng bọn xâm lược trống trơn, 50 cây số đường sông ra bể, mà không có bất cứ hành động nào để cô lập, ngăn trở việc tiếp viện quân và khí giới của chúng.

-Sau khi thành Gia Định bị rơi vào tay giặc, tuy một số đông nhân dân tự tiêu hủy nhà cửa, di tản, không hợp tác với ngoại xâm; nhưng ở nơi giàu có, đủ đầy này hoàn cảnh không thể giống ở Đà Nẵng: nhiều cát trắng, ít tiền của, dân cư thưa thớt… để có thể gây khó cho chúng được.

Dù là vậy, nhưng lẽ ra ông phải vừa tuyên truyền vừa ban bố lệnh cấm tuyệt đối việc dân chúng, nhất là giới giáo dân & Hoa kiều, giao thương với bọn giặc mới phải. Đàng này, ông chỉ ra lời kêu gọi (bài hịch của Nguyễn Tri Phương kêu gọi giáo dân và Hoa kiều đánh Tây do đốc học Mạc Như Đông làm, theo sách Sài Gòn- Gia Định qua thơ văn xưa, tr.290-293, Nxb TPHCM năm 1987).

Nên chỉ nói năm 1860 thôi, đã có 11 tàu Châu Âu và 140 tàu thuyền khác tới Bến Nghé mua lúa gạo, cá khô, bông vải, dầu dừa, tơ tằm, da trâu…Nhờ vậy, địch lấy đó nuôi quân.

Và cũng nhờ vậy, bọn chúng mua chuộc được một số người làm tay sai, làm chỉ điểm nên bọn giặc rất biết rõ về ta, mà ta thì không hề có chút hiểu biết gì về giặc!

Qua lời bình phẩm in trong Tổng Tập, tôi nhận thấy người viết chê trách khả năng điều hành yếu cùng phương thức chiến đấu kém linh hoạt, trong công cuộc phòng chống ngoại xâm của những tướng lãnh thời bấy giờ hơi nhiều.Nhưng vấn đề nên luận bàn này tôi xin dành ở phần VIII.

V.Hà Thành mất vào tay thực dân Pháp lần thứ nhất (1873):

Thử thành quách thử giang sơn
Bách chiến phong trần dư xích địa
Vi nhật tinh vi hà nhạc
Thập niên tâm sự vọng thanh thiên


(Kìa thành quách, kìa non sông,
Trăm trận phong trần còn đất đỏ
Nọ trời sao, nọ sông núi,
Mười năm tâm sự với trời xanh).


(Câu đối thờ Nguyễn Tri Phương ở đền Trung Liệt, Hà Nội; của thám hoa Vũ Phạm Hàm).

***
Năm 1862, sau khi triều đình ký hàng ước, Nguyễn Tri Phương được cử ra Bắc làm Tổng thống Hải An quân vụ.

Năm 1873, nhân xảy ra vụ tên lái súng J.Dupuis có nhiều thái độ hống hách, xấc xược ở Bắc, Soái phủ Nam Kỳ viện cớ để phái F.Garnier đem quân ra huy hiếp Hà Nội.

Ngày 19-11-1873, quân Pháp đánh úp thành Hà Nội, mặc dù ông đã chỉ huy chống trả quyết liệt nhưng vì binh lực yếu, vũ khí kém cỏi nên quân Pháp chiếm được thành. Con trai ông là phò mã Nguyễn Lâm bị trúng đạn chết tại trận.
Giặc Pháp bắt được ông trong lúc đang bị trọng thương.Được lính Pháp cứu chữa, nhưng ông đã từ chối và nói rằng: “Bây giờ nếu ta chỉ gắng lây lất mà sống, sao bằng thung dung chết về việc nghĩa”.
Sau đó ông vứt bỏ thuốc men, nhịn cơm cháo gần một tháng.

Vào ngày 20/12/1873 ( 1- 11 năm Quý Dậu), danh tướng Nguyễn Tri Phương, người lãnh trọng trách giữ thành Hà Nội, đã trút hơi thở cuối cùng, khi ấy ông đã 73 tuổi.

Được tin ông mất vua Tự Ðức vô cùng đau xót, tự tay làm thơ điếu và còn sai quân đưa thi hài ông và Phò mã Nguyễn Lâm về quê nhà an táng.

Nguyễn Tri Phương được xếp vào hàng trung nghĩa và thờ tại Huế và Hà Nội, đồng thời cho lập một nhà thờ tại quê nhà thờ chung 3 vị công thần đều ở trong một gia đình đã tuẫn tiết: tướng Nguyễn Duy (em ruột),phò mã Nguyễn Lâm (con ông) và ông...

Nhiều bạn đồng liêu, nhiều sĩ phu yêu nước cũng có thơ tỏ lòng cảm phục ông, nhưng vì sợ bài viết dài nên tôi chỉ trích một:

Điếu Nguyễn Tri Phương tử tiết
Nguyễn Thiện Thuật.

Quân thân nâng nghĩa, nhẹ thân mình
Thua được bàn chi việc dụng binh.
Trăm trận gian nan mà chẳng chết,
Một hòa tạm bợ lại quyên sinh
Cửa trời đã đón người quân tử,
Bệ ngọc khôn trông mặt lão thành
Danh vọng thế mà lâm cảnh thế,
Quả trời chẳng muốn để tròn danh.


(Khương Hữu Dụng dịch- nguyên văn chữ Hán ở sách Hợp tuyển thơ văn Việt Nam, tr 359.Nxb Văn Học. 1984).

Ông được thờ trong đền Trung Liệt trên gò Đống Đa, Hà Nội với đôi câu đối mà tôi vừa nêu trên. Và cũng từ đó cho đến nay, không lúc nào nơi chốn đấy thiếu khói hương, chứng tỏ nhân dân hết sức quí trọng ông, một con người dám xả thân vì dân, vì nước...

Pháp đánh Hà Nội
Pháp đánh Hà Nội

 



Lần cập nhật cuối ( Thứ sáu, 01 Tháng 10 2010 06:59 )  

Mạng xã hội

Thăm dò

Website này có hữu ích không?
 

Tài trợ

SweetSoft Solutions Ltd.
Hương Vị Nấm
Công ty Thăng Long

Bài mới nhất

Bài xem nhiều nhất

Danh ngôn

  • Bây giờ nếu ta chỉ gắng lây lất mà sống, sao bằng thung dung chết về việc nghĩa - Nguyễn Tri Phương
  • Không thành công cũng thành nhân. - Nguyễn Thái Học
  • Dẫu có bạc vàng trăm vạn lạng. Chẳng bằng kinh sử một vài kho. - Lê Quý Đôn
  • Tự biết mình là người sáng suốt. Thắng được người là có sức mạnh. Thắng được mình là kiên cường. - Lão Tử