Xứng danh dòng tộc - Tự hào tổ tiên

Hệ tộc Nguyễn Tri

Trang chủ Thông tin Nhớ Nguyễn Tri Phương, cùng vài trang sử buồn xa cũ… - Trang 6

Nhớ Nguyễn Tri Phương, cùng vài trang sử buồn xa cũ… - Trang 6

Email In
Chỉ mục bài viết
Nhớ Nguyễn Tri Phương, cùng vài trang sử buồn xa cũ…
Trang 2
Trang 3
Trang 4
Trang 5
Trang 6
Trang 7
Trang 8
Tất cả các trang

 

IX.Nói qua đôi chút về tình thế thời bấy giờ, để tạm lý giải vì sao quan quân nhà Nguyễn, trong số đó có Nguyễn Tri Phương, liên tiếp gánh thất bại trong công cuộc phòng chống xâm lăng ( phần này có thể gọi tên khác là: Vì sao nhà Nguyễn mất nước?)

1/Qua nhiều năm phân tranh, loạn lạc kéo dài, thiên tai nhiều phen, nạn sưu thuế cao, nạn tham nhũng, bóc lột của bọn cường hào, bọn quan lại biến chất cùng nếp sống xa hoa của chúng… nên đến thời Tự Đức, sức dân và nền nông công thương nưóc ta đều đã lạc hậu, đã suy kiệt.

Đình thần Trương Quốc Dụng tâu: “…tài lực của nhân dân nay không bằng 6/10 năm trước”.
Đến khi Pháp tấn công Đà Nẵng, Nguyễn Tri Phương cũng đã tâu rằng: “Quân và dân của đã hết, sức đã yếu”.


2/Không có chính sách sánh suốt và thích hợp để nuôi “sức dân”(nhất là giới nông dân: lực lượng chủ yếu dành cho sản xuất và quốc phòng), không lôi kéo được người dân tộc ít người, người dân theo đạo công giáo đứng chung đội ngũ:
Trong sử Việt, không có triều đại nào loạn lạc nhiều như triều Nguyễn. Đánh dẹp xong nơi này thì nơi khác mọc lên.

Vì sao vậy? Có nhiều nguyên do, nhưng tựu chung cũng bởi dân quá bần cùng vì nạn thuế sưu cao, vì nạn thiên tai gây mất mùa, vì nạn quan lại vừa tham nhũng vừa hà khắc, vì chính sách cấm đạo quá đáng và còn vì âm mưu muốn đồng hóa một số dân tộc ít người…
Chi tiết của vấn đề nhiều góc cạnh này, bạn đọc có thể tìm hiểu thêm trong sách sử.

3/Quân đội nhà Nguyễn không còn đủ mạnh như thời đánh nhau với nhà Tây sơn:

Nhiều sách sử viết về thời kỳ này cho biết: lính chính qui không quá một vạn, tinh thần thì sợ vũ khí khá hiện đại của giặc, đánh đấm còn theo thói cũ, vũ khí quá thô sơ; lương ăn áo mặc thảy đều thiếu thốn…

Đại thần Phạm Phú Thứ nhận xét:

“Quân sĩ hèn nhát là do chưởng quan bất tài và vô quyền. Quân sĩ nhiều người không có lương bổng, rất đói khổ, phải tìm cách giúp đỡ nhau chớ không trông mong gì đến gạo trong kho.
Quan võ thì thường than thở rằng mình hết sức chống giữ biên cương, rủi ra chết đi thì chỉ thiệt mình, chứ công trạng nào ai nghĩ đến cho…”


4/Trong tình cảnh như vậy mà nơi triều đình đa phần vua quan đều bất cập trước biến động của thời cuộc, không ngờ Pháp ở xa đến đánh chiếm; nên lúng túng trong cách suy nghĩ, phòng chống, ứng xử:

Nhà Nguyễn không chỉ bất cập trước biến động của thời cuộc trong những năm đầu khi Pháp nổ súng vào nước ta; mà vào năm 1870, triều đình Huế đã đánh mất hai cơ hội quí báu để cởi ách thực dân chỉ vì căn bệnh “khờ khạo và bạc nhược”:

-Năm 1870, Pháp bị Đức đánh thua xiểng niểng.Chiều ngày 1-9, hoàng đế Na-pơ-lê-ông III bị bắt cùng mười vạn binh, ngày 27-10, tất cả 173000 quân Pháp ở thành Mết-zơ đầu hàng.

Khoảng thời gian này, tin tức về cuộc thất bại  thật thảm hại này lan tới Sài Gòn, tới Huế. Soái phủ Nam Kỳ hoảng sợ vội vàng cho phòng bị nghiêm mật, vì e rằng Huế sẽ nhân cơ hội này để tổ chức phản công.
Cuối cùng, bọn chúng đã thở phào nhẹ nhõm khi nhận được “thơ hỏi thăm và chia buồn” của vua Tự Đức!

-Một cơ hội khác bị bỏ lỡ nữa, đó là lúc tư bản Pháp bị cuộc cách mạng vô sản nổi lên ở Pa-ri và phong trào công nhân mạnh lên ở nhiều tỉnh (năm 1871).
Tuy sau này Công xã Pa-ri thất bại, nhưng giai cấp tư sản Pháp còn phải vướng víu rất nhiều khi củng cố lại chính quyền, không còn đầu óc nào để lo cho một thuộc địa quá xa xăm…

5/Tại “sân nhà” mà nhà Nguyễn không dám đánh, luôn giữ “thế thủ” và đường lối “chủ hòa” thì làm sao không mất nước cho được:

Nói là “chủ hàng” thì đúng hơn; vì chỉ có chủ động tấn công, ta mới giành được ưu thế bất ngờ, và  ta cũng không cần đóng vai “quân tử Tàu” trong cung cách đánh với xâm lược (vũ khí của ta thô sơ, đạn dược kém mà lại đi đóng đồn, đánh nhau bằng trận địa chiến, không biết lưu động và ứng phó linh hoạt).
Nói rõ hơn, nghĩa là bằng mọi giá, mọi cách, mọi nơi ta phải làm sao để cầm chân, phân tán mỏng giặc ra và làm hao mòn sức lực của chúng thì mới có thể ít ra ngồi ngang hàng, ngang mặt tính chuyện thương lượng. 

Thêm nữa cũng vì căn bệnh “khờ khạo và suy nhược”vừa nêu trên, nhà Nguyễn không thể tạo được tiếng nói chung của mọi tầng lớp, không củng cố và phát huy được khả năng, tiềm lực, trí tuệ của dân tộc.
Vậy có thể nói sức đề kháng của dân tộc lúc bấy giờ vì sự lãnh đạo quá đổi non kém mà trở nên khá yếu ớt.


Nói đâu xa, ngay nơi triều đình sự non kém và yếu ớt, đã bộc lộ thật rõ nét:
Trong sách Dương sự thủy mạc có ghi mấy câu luận bàn rất ngô nghê, rất tức cười của triều thần khi giặc đã vào nhà rồi, tôi tóm gọn lại như sau để minh chứng:


-“chống giặc duy thủ là hơn. Họ và ta vốn không gần nhau, không thể thôn tín nhau. Chuyến này chúng đến chẳng qua là vì lợi. Lấy chủ đợi khách, nên dùng kế trì cửu để đợi họ mệt mỏi….Tự Đức cho là phải.”

- “Bấy lâu nay ta lạnh nhạt với họ, họ bị các nước láng giềng chê cười, cho nên đem quân đánh ta cho được hòa-”trích lời tâu của tướng Nguyễn Bá Nghi

Nói thêm về vị tướng này.Tuy ông cũng là người yêu nước, có tiết tháo như tướng Nguyễn Tri Phương; nhưng có lẽ vì không có cái nhìn toàn cục, không lường hết dã tâm và quá sợ hãi trước vũ khí của thực dân, nên ông đã đề ra đối sách với bọn thực dân sai lầm vô cùng.

Như từ ngày ông  nhận lệnh vào Nam để thay Nguyễn Tri Phương chỉ huy cuộc kháng chiến. Vừa xem xét tình hình xong, Bá Nghi đã gửi lời tâu liên tiếp về triều với ý rằng: “Giữ không tiện, đánh cũng không tiện”, “hòa thì mất ít, đánh thì mất nhiều”,”Pháp sở dĩ đánh ta vì ta lạnh nhạt với nó, nó đánh ta là để có hòa”,“đánh giữ đều không được, trừ một chước hòa, tôi chỉ còn chịu tội…” “Tôi không đắp đồn lũy nữa, không thu trưng binh nữa…kẻ địch xét thấy ý ta không trung thực, họ lâi càng thêm chém cắt hơn”

Nghe lời tâu , quá đổi “xụi lơ”, không chút nhuệ khí nào, ấy vậy mà vua Tự Đức còn buông ra những lời động viên quân tướng cũng rất đáng cười ra nước mắt: “Phải gắng sức, khéo dùng lời cảm hóa kẻ địch để họ kiêng nể mà nghe ta”( trích  Dương sự thủy mạc, khuyết danh, bản dịch của Khoa Sử, ĐHTH Hà Nội)…

Luận bàn vấn đề này, Gs Trần Văn Giàu đã có nhận xét trong Tổng tập, tôi tóm gọn lại như sau: Triều Nguyễn không dự kiến tình huống Pháp chiếm giữ nước ta.Vì họ cho nước Pháp xa Việt Nam lắm, họ không ở gần ta như nhà Minh , nhà Thanh…nên họ lấy nước ta làm gì, chẳng qua họ cần mấy thẻo đất để lập thương điếm, lập nhà thờ và để đòi bồi thường chiến phí thôi.

Bởi nhà Nguyễn mê muội như thế, nên ông chua chát viết thêm:

“Xứ ta vào những năm 1860-1862, quân Tây có bao nhiêu, có lúc chỉ có khoảng 300 tên.Chỉ cần một đội quân cảm tử không đông lắm, bằng dao găm đã có thể tiêu diệt chúng trong một đêm thì khí thế quân ta lên biết bao nhiêu!...”

Và gần đây, có ai đó còn nhớ chuyện đã u buồn, đại khái nói là Tây có một nhúm người mà chúng đô hộ ta cả trăm năm….
Đôi lời trách cứ này, thiết nghĩ thật đáng suy gẫm.

 



Lần cập nhật cuối ( Thứ sáu, 01 Tháng 10 2010 06:59 )  

Mạng xã hội

Thăm dò

Website này có hữu ích không?
 

Tài trợ

SweetSoft Solutions Ltd.
Hương Vị Nấm
Công ty Thăng Long

Bài mới nhất

Bài xem nhiều nhất

Danh ngôn

  • Bây giờ nếu ta chỉ gắng lây lất mà sống, sao bằng thung dung chết về việc nghĩa - Nguyễn Tri Phương
  • Không thành công cũng thành nhân. - Nguyễn Thái Học
  • Dẫu có bạc vàng trăm vạn lạng. Chẳng bằng kinh sử một vài kho. - Lê Quý Đôn
  • Tự biết mình là người sáng suốt. Thắng được người là có sức mạnh. Thắng được mình là kiên cường. - Lão Tử