Xứng danh dòng tộc - Tự hào tổ tiên

Hệ tộc Nguyễn Tri

Trang chủ Thông tin Nhớ Nguyễn Tri Phương, cùng vài trang sử buồn xa cũ…

Nhớ Nguyễn Tri Phương, cùng vài trang sử buồn xa cũ…

Email In
Chỉ mục bài viết
Nhớ Nguyễn Tri Phương, cùng vài trang sử buồn xa cũ…
Trang 2
Trang 3
Trang 4
Trang 5
Trang 6
Trang 7
Trang 8
Tất cả các trang

Tưởng nhớ Nguyễn Tri Phương

“Bây giờ nếu ta chỉ gắng lây lất mà sống, sao bằng thung dung chết về việc nghĩa” (Nguyễn Tri Phương)

I.Vài dòng tiểu sử:

Nguyễn Tri Phương (1800-1873) , người làng Đường Long, tổng Chánh Lộc, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên (Huế).

Ông có tên cũ là Nguyễn Văn Chương tự là Hàm Trinh. Đến năm 1850, vua Tự Đức chuẩn phê cải tên ông là Nguyễn Tri Phương. Nhà vua đặt tên như vậy là do lấy câu chữ “Dõng thả Tri Phương”, nghĩa là thừa dũng mãnh lắm mưư chước.

Ông xuất thân trong một gia đình làm ruộng và nghề thợ mộc, là con ông Nguyễn Văn Ðảng và bà Nguyễn Thị Thể.

Theo gia phả và các truyện lưu truyền thì ông có sức vóc mạnh khỏe, tráng kiện.Và ngay từ lúc nhỏ cho đến khi trưởng thành, Nguyễn Tri Phương có tiếng là người thông minh, chăm học, giỏi võ thuật và khá rành rẽ binh thư đồ trận.

Nhưng vì nhà nghèo nên ông không thể xuất thân từ khoa bảng, chỉ nhờ vào ý chí tự lập, ông đã làm nên sự nghiệp lớn rồi hy sinh cho nước, cho dân.

Hồi trai trẻ ông làm thơ lại tại huyện đường Phong Ðiền, dần dần được bổ làm thơ lại tại bộ Hộ. Tại đây ông được thượng thư Nguyễn Ðăng Tuân (thân phụ kinh lược xứ Bắc kỳ Nguyễn Ðăng Giai) xem như tri kỷ, đem lòng yêu mến tiến cử lên triều đình, được vua Minh Mạng thu dụng.

Từ 1849-1857, suốt 18 năm dài này, Nguyễn Tri Phương không còn ở Huế nữa mà đi vào các tỉnh phía Nam làm nhiều công việc khác nhau. Nổi bật là công lao trong việc dàn xếp mối quan hệ Việt-Miên-Xiêm. Nên không những bờ cõi phía Tây được sự yên ổn, mà ngày càng mở rộng, trù phú thêm nhờ ông cho tạo lập nhiều đồn điền, cho người dân đến khẩn hoang nơi vùng đất mới…

Đến khi thực dân Pháp nả đại pháo vào nước ta và vào những năm tiếp theo trong công cuộc chống lại bọn chúng, ông đã từng là vị tổng chỉ huy quân đội triều Nguyễn lần lượt ở các mặt trận Đà Nẵng (1858), Gia Định (1861) và Hà Nội (1873)…

Tượng Nguyễn Tri Phương
Tượng Nguyễn Tri Phương

II.Nhắc lại tham vọng của thực dân Pháp:

Tuổi già, ông Cha cố A-lec-xăng đờ-rốt về Tây, đem theo một bản địa đồ Việt Nam khá tỉ mỉ, một số ký sự, trong đó có nói về xứ Việt Nam:

“Đây là một vị trí cần phải chiếm lấy, và chiến được vị trí này thì thương gia Âu châu sẽ tìm được một nguồn lợi nhuận và tài nguyên dồi dào”.

Sau đó, nhiều lái buôn và giáo sĩ có dịp sang nước ta, họ đều có nhận xét tương tự…

Tuy nhiên vì nhiều lý do cản trở, nên pháp chưa thể đặt chân lên đất Việt.

Vào năm 1822, Anh quốc sau khi chiếm Singapore (1818), họ cử sứ thần đến Huế yêu cầu mở cửa biển cho họ vào buôn bán.

Lúc này thực dân Pháp đã bị Anh gạt ra khỏi Ấn Độ, nên chúng rất nôn nóng, rất lo lắng sẽ lại bị mất cả thị trường Việt Nam.

Để có cớ mở cuộc xâm lược, năm 1822 và 1825, Pháp đã 2 lần cho tàu chiến vào vào đà Nẵng đòi Huế thả các giáo sĩ bị bắt và phải cho họ tự do đến buôn bán.

Nhiều năm sau này, Pháp còn liên tiếp đòi hỏi và tiến hành nhiều vụ khiêu khích về quân sự khác…       

II. Mặt trận Sơn Trà-Đà Nẵng bị nguy khốn, nhưng quân Việt vẫn cầm chân giặc được (1/9/1858 - 2/1859):

Thần công nó bắn
Đạn nổ đùng đùng
Nó bắn lung tung,
Vào thành Đà trấn
Cho quân xâm lấn
Đổ bộ Sơn Trà
Lệnh ông đại sứ
Đánh giáp la cà
Tây chết bề bộn
Năm tàu lổng lộn
Nó nả thần công
Đạn nổ đùng đùng
Bốn phương tám hướng
Lính triều hoảng vía
Bỏ chạy tứ tung,
Quan tướng đểu lo
Mấy dãy quán kho
Cũng đều bỏ chạy…

(trích ca dao do cụ Nguyễn Xuân Bá
ở phường Xuân Hà,TP Đà Nẵng sưu tầm)


Trước tham vọng vô bờ của giặc, cuối cùng non sông Việt cũng phải gánh gồng thêm bao nỗi tang thương:

Thực hiện kế hoạch xâm lược Việt Nam của vua Pháp Napôlêông III, 31/8/1858 quân Pháp (có một bộ phận quân Tây Ban Nha phối hợp) dàn trận ở cửa biển Đà Nẵng; lực lượng gồm 14 chiến thuyền (Pháp 13, Tây Ban Nha 1) và 2.350 quân do Rigault de Genouilly chỉ huy.

Quân triều đình phòng thủ Quảng Nam - Đà Nẵng chỉ có 2.000 lính đồn trú.

Sáng 1/9 quân Pháp bất ngờ dùng pháo hạm bắn áp đảo rồi đổ bộ đánh chiếm các đồn An Hải, Điện Hải và bán đảo Sơn Trà, tiến sâu vào nội địa nhưng bị chặn lại ở ven biển Hòa Vang.

Đến khi được tin mất Sơn Trà, Tự Đức cho hữu quân Lê Đình Lý đem 2000 binh đi cứu viện. Lý đánh một trận khá lớn ở xã Cẩm Lệ, bị thương và bị thua ( do bị thương nặng nên ông Lý (1790-1858) đã mất. Ông là vị tướng đầu tiên hy sinh trong đại cuộc chống lại bọn thực dânPháp)

Thống chế Chu Phúc Minh lên thay và Nguyễn Tri Phương được cử làm tổng thống quân thứ Quảng Nam cùng lo việc chống giặc.

Các ông gấp rút lập phòng tuyến Liên Trì, cho đắp lũy từ Hải Châu đến Phúc Ninh, chỉ huy quân và dân ta đánh lui nhiều đợt tiến công của chiến thuyền Pháp vào Sông Hàn, sông Nại Hiên, giam chân địch ở bán đảo Sơn Trà...

Bước đầu, địch bị cầm chân, bị thiệt hại nặng nề, không thể dùng nơi ấy để làm bàn đạp tiến ra Huế; căn bản vì nhân dân Quảng Nam - Đà Nẵng thực hiện "vườn không, nhà trống", lập các đội dân binh đánh địch .

Lý do khác nũa là chúng không được dân bên đạo hổ trợ như lời hứa hẹn của các giáo sĩ.

Và sau rốt là do chúng thiếu lương ăn, chốn ở, không hạp phong thổ và bị bệnh tật.

Sách Việt Nam sử lược ghi: Khi trước các giáo sĩ đều nói rằng hễ quân Pháp sang đánh thì dân bên đạo tức khắc nổi lên giúp, đến nay không tin tức gì…Ở Đà Nẵng, chỗ ăn chỗ ở không có, lại phải bệnh dịch tả chết hại mất nhiều người…(tr.489).

Đô đốc Rigault de Genouilly gửi một báo cáo về Pháp, trong đó có câu:

“chúng ta đang xuống dốc đến kiệt quệ tại Đà Nẵng…” (4-1- 1859). Hơn mười sau (15-1), y gửi tiếp:

“Số lính bị bệnh kiết lỵ quá nhiều.Trong số 800 lính bộ binh chỉ còn nhiều nhất là 500 người có thể cầm khí giới, không đủ sức hành quân…”( Kho lưu trữ quốc gia Pháp, KH:BB4-769)

Trở lại vấn đề, phải nói lúc bấy giờ tướng Nguyễn Tri Phương đã đề ra một chủ trương khá hiệu quả là:

Nguyễn Tri Phương không chủ trương tấn công mà chủ trương bao vây địch ngoài mé biển, địch lan tới đâu thì toàn dân được lệnh tản cư vào nột địa để khỏi bị giặc bắt làm lính hay bắt nộp quân lương…

Một viên sĩ quan Pháp gửi thư về cho mẹ đã phải than thở:

“Đất mà chúng con chiếm được thì dân đều bỏ đi cả, trừ vài nhà tranh của người đánh cá, con chưa hề thấy một con gà..”( trích Les correspondances de De Larclauze).

Âm mưu "đánh nhanh, thắng nhanh" bị thất bại, thực dân phải từ bỏ ý định đánh ra Huế. Đầu tháng 2-1859, chúng để lại một bộ phận giữ bán đảo Sơn Trà, còn phần lớn lực lượng chuyển hướng tiến công vào Gia Định.

Có thể coi đây là thắng lợi lớn và duy nhất ở mặt trận Đà Nẵng trong hơn ¼ thế kỷ chống xâm lược, từ 1858-1884.

 



Lần cập nhật cuối ( Thứ sáu, 01 Tháng 10 2010 06:59 )  

Mạng xã hội

Thăm dò

Website này có hữu ích không?
 

Tài trợ

SweetSoft Solutions Ltd.
Hương Vị Nấm
Công ty Thăng Long

Bài mới nhất

Bài xem nhiều nhất

Danh ngôn

  • Bây giờ nếu ta chỉ gắng lây lất mà sống, sao bằng thung dung chết về việc nghĩa - Nguyễn Tri Phương
  • Không thành công cũng thành nhân. - Nguyễn Thái Học
  • Dẫu có bạc vàng trăm vạn lạng. Chẳng bằng kinh sử một vài kho. - Lê Quý Đôn
  • Tự biết mình là người sáng suốt. Thắng được người là có sức mạnh. Thắng được mình là kiên cường. - Lão Tử