Nhớ Nguyễn Tri Phương, cùng vài trang sử buồn xa cũ…

In

Tưởng nhớ Nguyễn Tri Phương

“Bây giờ nếu ta chỉ gắng lây lất mà sống, sao bằng thung dung chết về việc nghĩa” (Nguyễn Tri Phương)

I.Vài dòng tiểu sử:

Nguyễn Tri Phương (1800-1873) , người làng Đường Long, tổng Chánh Lộc, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên (Huế).

Ông có tên cũ là Nguyễn Văn Chương tự là Hàm Trinh. Đến năm 1850, vua Tự Đức chuẩn phê cải tên ông là Nguyễn Tri Phương. Nhà vua đặt tên như vậy là do lấy câu chữ “Dõng thả Tri Phương”, nghĩa là thừa dũng mãnh lắm mưư chước.

Ông xuất thân trong một gia đình làm ruộng và nghề thợ mộc, là con ông Nguyễn Văn Ðảng và bà Nguyễn Thị Thể.

Theo gia phả và các truyện lưu truyền thì ông có sức vóc mạnh khỏe, tráng kiện.Và ngay từ lúc nhỏ cho đến khi trưởng thành, Nguyễn Tri Phương có tiếng là người thông minh, chăm học, giỏi võ thuật và khá rành rẽ binh thư đồ trận.

Nhưng vì nhà nghèo nên ông không thể xuất thân từ khoa bảng, chỉ nhờ vào ý chí tự lập, ông đã làm nên sự nghiệp lớn rồi hy sinh cho nước, cho dân.

Hồi trai trẻ ông làm thơ lại tại huyện đường Phong Ðiền, dần dần được bổ làm thơ lại tại bộ Hộ. Tại đây ông được thượng thư Nguyễn Ðăng Tuân (thân phụ kinh lược xứ Bắc kỳ Nguyễn Ðăng Giai) xem như tri kỷ, đem lòng yêu mến tiến cử lên triều đình, được vua Minh Mạng thu dụng.

Từ 1849-1857, suốt 18 năm dài này, Nguyễn Tri Phương không còn ở Huế nữa mà đi vào các tỉnh phía Nam làm nhiều công việc khác nhau. Nổi bật là công lao trong việc dàn xếp mối quan hệ Việt-Miên-Xiêm. Nên không những bờ cõi phía Tây được sự yên ổn, mà ngày càng mở rộng, trù phú thêm nhờ ông cho tạo lập nhiều đồn điền, cho người dân đến khẩn hoang nơi vùng đất mới…

Đến khi thực dân Pháp nả đại pháo vào nước ta và vào những năm tiếp theo trong công cuộc chống lại bọn chúng, ông đã từng là vị tổng chỉ huy quân đội triều Nguyễn lần lượt ở các mặt trận Đà Nẵng (1858), Gia Định (1861) và Hà Nội (1873)…

Tượng Nguyễn Tri Phương
Tượng Nguyễn Tri Phương

II.Nhắc lại tham vọng của thực dân Pháp:

Tuổi già, ông Cha cố A-lec-xăng đờ-rốt về Tây, đem theo một bản địa đồ Việt Nam khá tỉ mỉ, một số ký sự, trong đó có nói về xứ Việt Nam:

“Đây là một vị trí cần phải chiếm lấy, và chiến được vị trí này thì thương gia Âu châu sẽ tìm được một nguồn lợi nhuận và tài nguyên dồi dào”.

Sau đó, nhiều lái buôn và giáo sĩ có dịp sang nước ta, họ đều có nhận xét tương tự…

Tuy nhiên vì nhiều lý do cản trở, nên pháp chưa thể đặt chân lên đất Việt.

Vào năm 1822, Anh quốc sau khi chiếm Singapore (1818), họ cử sứ thần đến Huế yêu cầu mở cửa biển cho họ vào buôn bán.

Lúc này thực dân Pháp đã bị Anh gạt ra khỏi Ấn Độ, nên chúng rất nôn nóng, rất lo lắng sẽ lại bị mất cả thị trường Việt Nam.

Để có cớ mở cuộc xâm lược, năm 1822 và 1825, Pháp đã 2 lần cho tàu chiến vào vào đà Nẵng đòi Huế thả các giáo sĩ bị bắt và phải cho họ tự do đến buôn bán.

Nhiều năm sau này, Pháp còn liên tiếp đòi hỏi và tiến hành nhiều vụ khiêu khích về quân sự khác…       

II. Mặt trận Sơn Trà-Đà Nẵng bị nguy khốn, nhưng quân Việt vẫn cầm chân giặc được (1/9/1858 - 2/1859):

Thần công nó bắn
Đạn nổ đùng đùng
Nó bắn lung tung,
Vào thành Đà trấn
Cho quân xâm lấn
Đổ bộ Sơn Trà
Lệnh ông đại sứ
Đánh giáp la cà
Tây chết bề bộn
Năm tàu lổng lộn
Nó nả thần công
Đạn nổ đùng đùng
Bốn phương tám hướng
Lính triều hoảng vía
Bỏ chạy tứ tung,
Quan tướng đểu lo
Mấy dãy quán kho
Cũng đều bỏ chạy…

(trích ca dao do cụ Nguyễn Xuân Bá
ở phường Xuân Hà,TP Đà Nẵng sưu tầm)


Trước tham vọng vô bờ của giặc, cuối cùng non sông Việt cũng phải gánh gồng thêm bao nỗi tang thương:

Thực hiện kế hoạch xâm lược Việt Nam của vua Pháp Napôlêông III, 31/8/1858 quân Pháp (có một bộ phận quân Tây Ban Nha phối hợp) dàn trận ở cửa biển Đà Nẵng; lực lượng gồm 14 chiến thuyền (Pháp 13, Tây Ban Nha 1) và 2.350 quân do Rigault de Genouilly chỉ huy.

Quân triều đình phòng thủ Quảng Nam - Đà Nẵng chỉ có 2.000 lính đồn trú.

Sáng 1/9 quân Pháp bất ngờ dùng pháo hạm bắn áp đảo rồi đổ bộ đánh chiếm các đồn An Hải, Điện Hải và bán đảo Sơn Trà, tiến sâu vào nội địa nhưng bị chặn lại ở ven biển Hòa Vang.

Đến khi được tin mất Sơn Trà, Tự Đức cho hữu quân Lê Đình Lý đem 2000 binh đi cứu viện. Lý đánh một trận khá lớn ở xã Cẩm Lệ, bị thương và bị thua ( do bị thương nặng nên ông Lý (1790-1858) đã mất. Ông là vị tướng đầu tiên hy sinh trong đại cuộc chống lại bọn thực dânPháp)

Thống chế Chu Phúc Minh lên thay và Nguyễn Tri Phương được cử làm tổng thống quân thứ Quảng Nam cùng lo việc chống giặc.

Các ông gấp rút lập phòng tuyến Liên Trì, cho đắp lũy từ Hải Châu đến Phúc Ninh, chỉ huy quân và dân ta đánh lui nhiều đợt tiến công của chiến thuyền Pháp vào Sông Hàn, sông Nại Hiên, giam chân địch ở bán đảo Sơn Trà...

Bước đầu, địch bị cầm chân, bị thiệt hại nặng nề, không thể dùng nơi ấy để làm bàn đạp tiến ra Huế; căn bản vì nhân dân Quảng Nam - Đà Nẵng thực hiện "vườn không, nhà trống", lập các đội dân binh đánh địch .

Lý do khác nũa là chúng không được dân bên đạo hổ trợ như lời hứa hẹn của các giáo sĩ.

Và sau rốt là do chúng thiếu lương ăn, chốn ở, không hạp phong thổ và bị bệnh tật.

Sách Việt Nam sử lược ghi: Khi trước các giáo sĩ đều nói rằng hễ quân Pháp sang đánh thì dân bên đạo tức khắc nổi lên giúp, đến nay không tin tức gì…Ở Đà Nẵng, chỗ ăn chỗ ở không có, lại phải bệnh dịch tả chết hại mất nhiều người…(tr.489).

Đô đốc Rigault de Genouilly gửi một báo cáo về Pháp, trong đó có câu:

“chúng ta đang xuống dốc đến kiệt quệ tại Đà Nẵng…” (4-1- 1859). Hơn mười sau (15-1), y gửi tiếp:

“Số lính bị bệnh kiết lỵ quá nhiều.Trong số 800 lính bộ binh chỉ còn nhiều nhất là 500 người có thể cầm khí giới, không đủ sức hành quân…”( Kho lưu trữ quốc gia Pháp, KH:BB4-769)

Trở lại vấn đề, phải nói lúc bấy giờ tướng Nguyễn Tri Phương đã đề ra một chủ trương khá hiệu quả là:

Nguyễn Tri Phương không chủ trương tấn công mà chủ trương bao vây địch ngoài mé biển, địch lan tới đâu thì toàn dân được lệnh tản cư vào nột địa để khỏi bị giặc bắt làm lính hay bắt nộp quân lương…

Một viên sĩ quan Pháp gửi thư về cho mẹ đã phải than thở:

“Đất mà chúng con chiếm được thì dân đều bỏ đi cả, trừ vài nhà tranh của người đánh cá, con chưa hề thấy một con gà..”( trích Les correspondances de De Larclauze).

Âm mưu "đánh nhanh, thắng nhanh" bị thất bại, thực dân phải từ bỏ ý định đánh ra Huế. Đầu tháng 2-1859, chúng để lại một bộ phận giữ bán đảo Sơn Trà, còn phần lớn lực lượng chuyển hướng tiến công vào Gia Định.

Có thể coi đây là thắng lợi lớn và duy nhất ở mặt trận Đà Nẵng trong hơn ¼ thế kỷ chống xâm lược, từ 1858-1884.

 


 

III. Gia Định thành bị san bằng:

Bỏ nhà lũ trẻ lơ xơ chạy,
Mất ổ bầy chim dáo dác bay
Bến Nghé của tiền tan bọt nước,
Đồng Nai tranh ngói nhuốm màu mây

(Nguyễn Đình Chiểu)

***
Năm sau (1859),đô đốc Rigault de Genouilly liệu bề tiến không được, hắn bèn cho quân chuyển hướng đánh thành Gia Định là một nơi dễ lấy, và lại là một nơi trù phú của nước ta.

Ngày 11-2-1859, bảy tàu chiến Pháp vào sông Cần Giờ.Thế rồi chúng cho bắn phá và chiếm ụ Hữu Bình (16-2).

Sau khi chúng cho 2 tàu nhỏ men theo rạch Thị Nghè thám thính, vào ngày 17-2-1859, quân Pháp đổ bộ tấn công thành Gia Định.
Giặc dùng trái nổ, dùng thang cao, đánh xáp lá cà. Đến trưa thì thành bị hạ. Hộ đốc thành là Vũ Duy Ninh và án sát Lê Từ tự vẫn.

Việt Nam sử lược kể vắn tắt như sau:

“Quân Pháp vào cửa Cần Giờ, bắn phá các pháo đài ở hai bên bờ sông Đồng Nai, rồi tiến lên đánh thành Gia Định.


Ở Gia Định, bấy giờ tuy có nhiều binh khí, nhưng quân lính không luyện tập, việc võ bị bỏ trễ nải, cho nên khi quân Pháp ở cửa Cần Giờ tiến lên, quan hộ đốc là Vũ Duy Ninh vội vàng tư đi các tỉnh lấy binh về cứu viện; nhưng chỉ trong hai ngày thì thành vỡ. Vũ Duy Ninh tự tận.

Quân nước Pháp và nước I Pha Nho vào thành, lấy được 200 khẩu súng đại bác, 8 vạn rưỡi kilos thuốc súng và độ chừng 18 vạn phật lăng (francs) cả tiền lẫn bạc, còn các binh khí và thóc gạo thì không biết bao nhiêu mà kể...”

Sau đó, vì thực dân không đủ quân trấn giữ nên đã chiếm lấy 9 chiến thuyền và nhiều thuyền gỗ nhỏ trên sông Thị Nghè, đốt hết  kho thóc gạo và san phẳng thành Gia Định. Tính tất cả theo thời giá khoảng 20 triệu quan.
( Theo A.THOMAZI, trong thành có hơn 2000 quân với 200 đại bác, một hải phòng hạm, 7 chiến thuyền, nhiều thuyền gỗ, 25000kg thuốc súng, tiền bạc trị giá 130.000 fr và thực phẩm đủ nuôi 8000 quân trong 1 năm)

Trận đánh này, phía Pháp 12 người chết và 200 bị thương, quân triều đình không rõ số thương vong, nhưng súng đạn mất sạch và quân lính tan rã gần hết.

Nghe tin Gia Định thất thủ, triều đình lo sợ cho riêng mình, nên vẫn để đại quân phòng ngự Đà Nẵng, chỉ phái Tôn Thất Hiệp mang 1500 quân vào đóng ở Biên Hòa.

Pháp đánh thành Gia Định
Pháp đánh thành Gia Định

 


 

IV.Đại đồn Chí Hòa, chiến lũy lớn nhất của non sông Việt thời bấy giờ, bị thất thủ (24-25/2/1861), khởi đầu một thời kỳ nô lệ:

Năm 1860, Nguyễn Tri Phương được sung chức Gia Định quân thứ, thống đốc quân vụ cùng tham tán đại thần Phạm Thế Hiển trông coi việc quân sự ở miền Nam.

Do không nắm vững tình hình quân sự và chính trị của Pháp, Nguyễn Tri Phương không hơn gì tướng Tôn Thất Hiệp, dù ông có chủ trương “công thủ”(vừa đánh vừa thủ) nhưng trong thực tế, ta không thấy ông tổ chức được cuộc tấn công nào có tầm cỡ,  dù lực lượng thực dân khi ấy còn rất ít.

Chỉ có một điểm khác duy nhất là ông gom hết sức lực của quân dân, không phải để đánh hay để phối hợp với các đạo quân “ứng nghĩa” đang làm cho giặc rất lo sợ; mà là để đổ trút vào việc xây dựng đại đồn Chí Hòa (Pháp gọi là Kỳ Hòa), cốt  chỉ để  bao vây địch lại, không cho chúng bung rộng ra mà thôi…

Nói thêm về quân “ứng nghĩa”:

Trong khi quan quân nhà Nguyễn rút chạy, thụ động thì nhiều sĩ phu yêu nước đã quay về thôn xã chiêu mộ nghĩa binh chống giặc.

Đó là những đạo quân của: Đỗ Trình Thoại, Trương Định, Phủ Cậu, Thiên hộ Dương, Quản Tu vv.... Chính sức đề kháng quyết liệt này mà tên tổng chỉ huy Charner phải bó tay, xin từ chức!

Trở lại chuyện, theo G.s Trần Văn Giàu lúc bấy giờ, địch mắc chiến tranh ở Âu châu ( can thiệp vũ trang vào Syrie và xung đột với Thổ Nhĩ Kỳ). Vì thế thực dân không hy vọng được tăng viện từ Pháp.Ở Trung Quốc, bị nhà Thanh chống cự lại, nên chúng rút phần lớn quân ở Gia Định sang tiếp viện bên đấy.

Ấy vậy mà quan quân  triều đình  không hề hay biết nội tình bọn chúng để phối hợp với quân “ứng nghĩa’ thừa cơ phản công, bỏ lỡ một cơ hội đánh đuổi giặc, thật đáng chê trách.

1/ Đại đồn Chí Hòa và tương quan lực lượng đôi bên trước khi giao chiến:

-Đại đồn Chí Hòa: G.s Trần Văn Giàu mô tả ví von rằng: xem địa đồ, hình thế đại đồn giống như tấm thân một lực sĩ mà 2 dải chiến hào như là 2 cánh tay dang ra ôm Sài Gòn- Chợ Lớn và như muốn sẵn sàng hất tung kẻ địch xuống sông Bến Nghé…

Thật vậy, đại đồn dài độ 3 cây số, ngang 1 cây số, là một chiến lũy lớn nhất của Việt Nam.

Đồn chia thành 5 khu, xung quanh có thành đất và đá ong, nhiều lớp rào tre, hầm hố, chông bẫy...; phía sau có các đồn nhỏ yểm trợ (Tham Lương, Thuận Kiều, Rạch Tra...), ở hai bên có chiến luỹ dài (đồn tả và đồn hữu) làm điểm tựa nhằm ngăn chặn và giam chân quân Pháp ở Sài Gòn.

-Tương quan lực lượng đôi bên:

Đầu năm 1861, phần lớn quân Pháp bị kẹt bên Trung Quốc vì chúng bị triều đình nhà Thanh chống cự quyết liệt; nên ở đất Gia Định thực dân chỉ có khoản 800 quân đóng rải rác.(thế mà nhà Nguyễn cứ “hòa không hòa, đánh không đánh”).

Ngay khi điều ước Bắc Kinh được ký, quân Pháp tập trung quân tại Ngô Tùng (Thượng Hải) vào giữa tháng 12/ 1860, để kéo về chi viện cho mặt trận Gia Định.

Đạo quân viễn chinh này gồm: 2200 quân Pháp, 600 dân phu bị bắt ở Quảng Châu. Từ Pháp, tăng chi viện thêm 900 lính nữa, cộng với số 800 quân đã có sẳn ở Gia Định, Chợ Lớn, thì tất cả lực lượng của địch trên 4000 người với gần 50 tàu thuyền các cở có gắn đại bác và súng liên thanh…

Và rồi chúng thiết lập nhanh chóng hệ thống phòng tuyến kéo dài từ đầu sông Thị Nghè đến chùa Mai Sơn, gọi là “phòng tuyến các chùa”.

Số quân ta ở gia Định dưới quyền chỉ huy thống nhất của Nguyễn Tri Phương thì chỉ là con số ước lượng.
Pháp nói ta có tới 20 ngàn quân chính qui, 10 ngàn dân quân và ở Biên Hòa có 15 ngàn quân từ miền Trung vào chi viện.

Chắc không thể có số quân chính qui đông như thế, vì khi Tây đánh Đà Nẵng, gần sát kinh đô mà quân nhà Nguyễn chỉ có 3200 người, thì khó có thể ở Gia Định xa xăm có số quân hơn 20 ngàn được.

Chắc thực dân Pháp tăng số quân Việt lên, chỉ để tăng giá trị chiến công của chúng mà thôi.(theo số liệu web Bảo tàng lịch sử quân sự Việt Nam, quân Việt chỉ có 12000 quân)

Trong đại đồn, ta có 150 đại bác đủ các cỡ, nhưng sức công phá của nó rất hạn chế, phần lớn chỉ bắn được đạn tròn đặc bằng gang, trúng ai chết nấy.

Tệ hại hơn nữa là không hiểu có phải Huế lệnh cho tướng cầm quân hà tiện hay không, mà nó không thể chủ động tấn công, hoặc nả tới tấp vào phòng tuyến giặc chỉ cách đó hơn 500 thước!

Pháp đánh đồn Chí Hòa
Pháp đánh đồn Chí Hòa

2/ Diễn biến:
Vào 4 giờ 30 phút ngày 24 tháng 2 năm 1861, quân Pháo do Charner chỉ huy với khoảng 5000 quân và chiến thuyền bắt đầu tấn công.
Mở đầu, bọn chúng cho đại bác trên bộ và dưới tàu đều nổ nhằm vào đại đồn mà bắn. Đại bác của ta cũng nhanh chóng trả lời.

Trong khi hai bên đấu pháo thì liên quân của thực dân từ Mai sơn tiến lên với khinh pháo. Quân Việt từ đồn Hữu bắn cản lại, chúng liền dùng đại bác bắn dồn dập vào tiền đồn này rồi xua bộ binh tiến lên. Quân ta có voi đi đầu tới ứng cứu, đánh nhau suốt ngày, địch chỉ mới tiến được 1 cây số.

Tờ mờ sánh hôm sau, địch tiếp tục tấn công rồi áp sát được đại đồn, song cách vách thành khoảng 100 thước thì gặp rất nhiều cạm bẫy, hào ụ nên chúng tiến rất chậm, bị chết và bị thương rất nhiều.

Tuy hao tổn vậy, nhưng giặc dùng thang tre và dứng trên vai nhau mà leo lên và chiếm được một số khu vực trong thành. Trong hoảng loạn, thấy khó bề chống giữ, Nguyễn Tri Phương ra lệnh lui quân về phía tây bắc…

Trận giao tranh ác liệt này, bên địch chết và bị thương trên 300 trong đó có đại tá Tếc-ta vong mạng. Bên ta chết và bị thương trên dưới 1000 người, mất 150 đại bác, 2000 khẩu súng tay, nghĩa là mất hầu hết các vũ khí có trong thành và chủ tướng là Nguyễn Tri Phương thì bị mảnh đại bác văng trúng bụng…

Em ruột ông Phương là tướng Nguyễn Duy tử trận.Tham tán Phạm Thế Hiển về đến Biên Hòa được mấy hôm thì cũng mất…

Tin đại đồn thất thủ làm chấn động Huế. Tự Đức liền sai Tôn Thất Đính đem 2000 quân vào ứng cứu, lại sai Nguyễn Bá Nghi cùng theo xem xét tình hình.Quan quân chưa kịp lên đường thì có tin từ mặt trận báo về rằng “quân số, khí giới đều hết sạch” nên vua phải cấp thêm 2000 quân nữa.

Lệnh khẩn vậy mà binh tướng đi rất chậm, đến rất trễ, khi đến Biên Hòa, Bình Thuận thì đám tướng lĩnh nằm ì ra đấy chớ không dám xua quân tiến chiếm lại…

Thế kỷ sau có người đi qua đấy, bồi hồi nhớ lại chuyện xưa nên có thơ rằng:

Qua Chí Hòa hoài cổ

Tiện bước qua thăm cảnh Chí Hòa
Đây nơi chiến địa buổi can qua
Đống xương vô định sương vùi lấp,
Giọt máu hy sanh cỏ nhuộm lòa
Cứu nước chẳng nề thân sống thác,
Liều mình không quản sức xông pha!
Người xưa, cảnh cũ nay còn nhớ?
Tang hải buồn thay nỗi nước nhà!

Sài Sơn P.H.C ( Phụ nữ tân văn số 28 ngày 7-11-1929)




3/Nêu vài ý nhỏ về việc thất thủ này:

Sau khi đại đồn Chí hòa thất thủ, tướng Nguyễn Tri Phương, Tôn Thất Cáp và Phạm Thế Hiển đều bị cách chức và ghép tội “trảm giam hậu”, sau được xét giảm nên chỉ bị giáng chức.

Vào tháng 9 âm lịch năm 1867, theo Quốc triều chánh biên, tr 348, triều đình Huế định xử lại vụ án này, nhưng về sau rồi bỏ qua vì cạn cùng mà nói kẻ chịu trách nhiệm chính, không ai khác hơn đó là cả một triều đình thiển cận và bất lực…

Trở lại vấn đề, theo tôi việc phòng chống giặc của lão tướng nhiều kinh nghiệm trận mạc như Nguyễn Tri Phương có vài điểm cần bàn:

-Như đã biết địch mạnh ở pháo binh nên các đồn đất hay đá ở Đà Nẵng, Gia Định đều không chịu nổi đại bác; vậy mà ông lại tập trung hàng ngàn quân trong một “cái rọ” to lớn ấy để chờ Tây đến,( tôi nhắc lại, lúc đầu chúng chỉ khoảng 800 người) mà không biết phối hợp mọi thành phần, mọi lực lượng để mở các cuộc tập kích lớn nhỏ ở khắp nơi, bất kể ngày đêm, cầm chân và làm tiêu hao bọn chúng về nhiều mặt!

-Như ông để phía sau lưng bọn xâm lược trống trơn, 50 cây số đường sông ra bể, mà không có bất cứ hành động nào để cô lập, ngăn trở việc tiếp viện quân và khí giới của chúng.

-Sau khi thành Gia Định bị rơi vào tay giặc, tuy một số đông nhân dân tự tiêu hủy nhà cửa, di tản, không hợp tác với ngoại xâm; nhưng ở nơi giàu có, đủ đầy này hoàn cảnh không thể giống ở Đà Nẵng: nhiều cát trắng, ít tiền của, dân cư thưa thớt… để có thể gây khó cho chúng được.

Dù là vậy, nhưng lẽ ra ông phải vừa tuyên truyền vừa ban bố lệnh cấm tuyệt đối việc dân chúng, nhất là giới giáo dân & Hoa kiều, giao thương với bọn giặc mới phải. Đàng này, ông chỉ ra lời kêu gọi (bài hịch của Nguyễn Tri Phương kêu gọi giáo dân và Hoa kiều đánh Tây do đốc học Mạc Như Đông làm, theo sách Sài Gòn- Gia Định qua thơ văn xưa, tr.290-293, Nxb TPHCM năm 1987).

Nên chỉ nói năm 1860 thôi, đã có 11 tàu Châu Âu và 140 tàu thuyền khác tới Bến Nghé mua lúa gạo, cá khô, bông vải, dầu dừa, tơ tằm, da trâu…Nhờ vậy, địch lấy đó nuôi quân.

Và cũng nhờ vậy, bọn chúng mua chuộc được một số người làm tay sai, làm chỉ điểm nên bọn giặc rất biết rõ về ta, mà ta thì không hề có chút hiểu biết gì về giặc!

Qua lời bình phẩm in trong Tổng Tập, tôi nhận thấy người viết chê trách khả năng điều hành yếu cùng phương thức chiến đấu kém linh hoạt, trong công cuộc phòng chống ngoại xâm của những tướng lãnh thời bấy giờ hơi nhiều.Nhưng vấn đề nên luận bàn này tôi xin dành ở phần VIII.

V.Hà Thành mất vào tay thực dân Pháp lần thứ nhất (1873):

Thử thành quách thử giang sơn
Bách chiến phong trần dư xích địa
Vi nhật tinh vi hà nhạc
Thập niên tâm sự vọng thanh thiên


(Kìa thành quách, kìa non sông,
Trăm trận phong trần còn đất đỏ
Nọ trời sao, nọ sông núi,
Mười năm tâm sự với trời xanh).


(Câu đối thờ Nguyễn Tri Phương ở đền Trung Liệt, Hà Nội; của thám hoa Vũ Phạm Hàm).

***
Năm 1862, sau khi triều đình ký hàng ước, Nguyễn Tri Phương được cử ra Bắc làm Tổng thống Hải An quân vụ.

Năm 1873, nhân xảy ra vụ tên lái súng J.Dupuis có nhiều thái độ hống hách, xấc xược ở Bắc, Soái phủ Nam Kỳ viện cớ để phái F.Garnier đem quân ra huy hiếp Hà Nội.

Ngày 19-11-1873, quân Pháp đánh úp thành Hà Nội, mặc dù ông đã chỉ huy chống trả quyết liệt nhưng vì binh lực yếu, vũ khí kém cỏi nên quân Pháp chiếm được thành. Con trai ông là phò mã Nguyễn Lâm bị trúng đạn chết tại trận.
Giặc Pháp bắt được ông trong lúc đang bị trọng thương.Được lính Pháp cứu chữa, nhưng ông đã từ chối và nói rằng: “Bây giờ nếu ta chỉ gắng lây lất mà sống, sao bằng thung dung chết về việc nghĩa”.
Sau đó ông vứt bỏ thuốc men, nhịn cơm cháo gần một tháng.

Vào ngày 20/12/1873 ( 1- 11 năm Quý Dậu), danh tướng Nguyễn Tri Phương, người lãnh trọng trách giữ thành Hà Nội, đã trút hơi thở cuối cùng, khi ấy ông đã 73 tuổi.

Được tin ông mất vua Tự Ðức vô cùng đau xót, tự tay làm thơ điếu và còn sai quân đưa thi hài ông và Phò mã Nguyễn Lâm về quê nhà an táng.

Nguyễn Tri Phương được xếp vào hàng trung nghĩa và thờ tại Huế và Hà Nội, đồng thời cho lập một nhà thờ tại quê nhà thờ chung 3 vị công thần đều ở trong một gia đình đã tuẫn tiết: tướng Nguyễn Duy (em ruột),phò mã Nguyễn Lâm (con ông) và ông...

Nhiều bạn đồng liêu, nhiều sĩ phu yêu nước cũng có thơ tỏ lòng cảm phục ông, nhưng vì sợ bài viết dài nên tôi chỉ trích một:

Điếu Nguyễn Tri Phương tử tiết
Nguyễn Thiện Thuật.

Quân thân nâng nghĩa, nhẹ thân mình
Thua được bàn chi việc dụng binh.
Trăm trận gian nan mà chẳng chết,
Một hòa tạm bợ lại quyên sinh
Cửa trời đã đón người quân tử,
Bệ ngọc khôn trông mặt lão thành
Danh vọng thế mà lâm cảnh thế,
Quả trời chẳng muốn để tròn danh.


(Khương Hữu Dụng dịch- nguyên văn chữ Hán ở sách Hợp tuyển thơ văn Việt Nam, tr 359.Nxb Văn Học. 1984).

Ông được thờ trong đền Trung Liệt trên gò Đống Đa, Hà Nội với đôi câu đối mà tôi vừa nêu trên. Và cũng từ đó cho đến nay, không lúc nào nơi chốn đấy thiếu khói hương, chứng tỏ nhân dân hết sức quí trọng ông, một con người dám xả thân vì dân, vì nước...

Pháp đánh Hà Nội
Pháp đánh Hà Nội

 


 

VI. Thêm 2 tư liệu bổ sung cho phần trên:

1/Trong cuốn “Hà Nội giai đoạn 1873-1888” (viết vào khoảng những năm 20 của thế kỷ XX) nhà sử học André Masson đã cho công bố  báo cáo của F. Garnier gửi cho Thống đốc Nam Kỳ chi tiết về cuộc tấn công thành Hà Nội do đích thân mình chỉ huy.

Đoạn trích sau đây mãi giờ mới được công bố qua bản dịch của Lưu Đình Tuân:
Năm giờ rưỡi sáng toán thứ nhất gồm 30 thủy binh và một khẩu pháo 4 do trung úy hải quân Bain de Coquerier chỉ huy rời trại để vào vị trí trước cửa Tây nam thành. 5 giờ 45 phút, toán thứ hai gồm 30 pháo thủ hải quân do ông Trentinian chỉ huy lên đường đến Cửa Đông Nam.

Rồi ông Esmez khi đó cũng dẫn 30 thủy binh và 3 khẩu pháo 4 cũng tiến về hội quân. Theo sau ông ta có một đội dự bị gồm 20 thủy binh. Ngoài sông Hồng, các pháo hạm Scorpion và Espignole chuẩn bị bắn phá...


Đúng 6 giờ sáng, tôi dẫn đầu đơn vị đặt chân lên cầu lũy bán nguyệt Đông Nam. Tiếng súng trường (mousqueton) của ông Bain nổ bên trái tôi cùng những quả đạn đầu tiên của pháo thuyền ngoài sông Hồng bắn thẳng vào thành.

Quân địch hoàn toàn bất ngờ. Bị nhiều đợt tấn công dồn dập, họ không biết điểm nào là điểm thực sự bị tấn công. Chúng tôi giải tỏa cầu khỏi những tấm chông bừa bãi khắp nơi mà không sợ đạn bắn.

Khi các pháo thủ An Nam trên thành lũy vào được vị trí thì chúng tôi đã ẩn được ở sát tường công sự. Những người phòng thủ chỉ còn cách ném đá xuống.

Chúng tôi dùng rìu búa nhưng không phá được cửa thành. Tôi bèn cho đặt khẩu đại bác trên cầu và ba phát đạn liên tiếp đã mở đường cho chúng tôi. Ngay lập tức ông Trentinitan và toán bộ binh của hải quân lao vào bên trong công sự góc. Tại đây quân phòng thủ không ẩn được phải chạy lên thềm đất ở chân thành.


Làn hỏa lực mãnh liệt của chúng tôi hướng vào những người trên mặt lũy và làm thất bại ý định của các pháo thủ địch nhiều lần định chĩa pháo về phía chúng tôi.

... Trong thời gian trên, ông Esmez cho pháo chiếm vị trí trên cầu và bắn thủng cánh cổng trong tiếng rào rào của đá từ trên lũy ném xuống. Chiếc cửa vững chắc này chống đỡ khá lâu. Khi mở được lối vào, tôi lao vào vòm cổng cùng với mấy người lính theo sau, và ngay tức khắc nhận ra trước mặt mình mấy người đang cầm lọng che cho một vị quan đang chỉ huy phòng thủ.

Tôi cũng bất ngờ khi nhận ra vị quan này chính là tướng Nguyễn Tri Phương. Sự ngẫu nhiên khiến vị trí chỉ huy của ông ta lại chính cửa tôi phải tấn công! Một cuộc đụng độ ngắn bằng súng lục đã giải quyết hoàn toàn khu vực phía cổng. Lính An Nam chạy tứ tán.
Một lúc sau ông Esmez cho tung bay trên đỉnh cột cờ lá cờ ba màu của Pháp đồng thời cũng là tín hiệu quy ước để các pháo hạm ngoài sông ngừng bắn phá. Lúc đó là 6 giờ 55 phút. Vài phút sau cờ Pháp bay trên năm cửa thành. Chúng tôi không có nguời nào bị thương…

2/Tròn một tháng sau trận tấn công thành Hà Nội, Nguyễn Tri Phương trút hơi thở cuối, thọ 73 tuổi. Ngày  22/12/1873  Francis Garnier bị quân Cờ Đen của Lưu Vĩnh Phúc mai phục giết gần Ô Cầu Giấy.
Cái xác mất đầu của Garnier được trung sĩ Champion mang về thành cùng xác hai lính thủy bị giết. Lái buôn kiêm gián điệp Jean Dupuis đã tả lại qua trích dẫn của André Masson.
“Không có gì kinh khủng hơn những cái xác không đầu đó. Cái xác trải dài trên rơm y nguyên như lúc mang về chiều hôm trước. F. Garnier cánh tay phải bị đứt, tay trái để xuôi theo thân.

Chân phải đi giày chân trái chỉ có tất ngắn. Quần áo tả tơi, khắp người đầy vết gươm và giáo. Ngực bị mổ. Tim bị lấy mất. Da bụng bị lột hai tay co quắp. Các thi thể được đóng trong áo quan bằng gỗ rất dày và được chôn gần Hoàng Cung chỗ hai gốc đa lớn....”

Trong sách của mình, André Masson cũng trích tài liệu của G. Dupuis rằng mãi đến ngày 6/1/1884 tức là 11 năm sau, người ta mới tìm thấy đầu của F. Garnier và chôn sau cùng với thây. Một chi tiết là sau khi mất, Nguyễn Tri Phương được chôn cất ngay trong thành. Francis Garnier cũng được chôn trong thành.

Sau này Nguyễn Tri Phương được đưa về an táng ở quê nhà thôn Đường Long, xã Phong Chương, huyện Phong Điền (Thừa Thiên-Huế)
Còn F. Garnier mấy năm sau được đưa về chôn ở nghĩa trang nằm trong khu Nhượng địa của Pháp.

Vậy mà, 124 năm kể từ sau ngày ông hy sinh vì dân vì nước, một kẻ thiếu ý thức đã làm một việc mà ai biết được đều không khỏi đau lòng:
Vào lúc 22 giờ ngày 23-8, một trẻ chăn trâu đã phát hiện ngôi mộ của danh tướng Nguyễn Tri Phương tại thôn Đại Phú, xã Phong Chương, huyện Phong Điền (Thừa Thiên-Huế) bị kẻ gian đào bới nghiêm trọng và báo cho chính quyền địa phương thôn và xã.

Ngay lập tức UBND xã Phong Chương đã cử người kiểm tra hiện trường thấy có 3 vết đục vào mộ và lăng tẩm lấy đi nhiều khối đất. Kẻ gian để lại hiện trường một chiếc đục.

Theo nhận định của người dân địa phương, kẻ gian nghi trong mộ có chôn vàng nên đào bới để lấy cắp…

Tranh mô tả cảnh Garnier bị quân Cờ Đen sát hại
Tranh mô tả cảnh Garnier bị quân Cờ Đen sát hại

VII.Thành Hà Nội thất thủ lần thứ nhất, có thể thấy gì qua sự kiện này?

J.Dupuis mà ta dịch là Đồ Phổ Nghĩa chỉ là một tên “lái buôn”.Vậy mà y dám hống hách, xấc xược, đòi hỏi nhiều điều quá đáng: như đòi đóng quân trên bờ sông, đòi thả người của hắn bị bắt giam, đòi có nhượng địa ở Hà Nội, đòi được cung cấp muối và than đá để đưa lên Vân Nam bán…

Thêm nữa, y còn cho bắt quan quân và người dân đem xuống tàu, cướp thuyền gạo của triều đình, đánh phá nhiều đồn của quân Việt và quân Cờ Đen ở hai bên bờ sông, dám xé cả bố cáo của tổng đốc Nguyễn Tri Phương khi mới ra nhậm chức vv…

Vậy mà Nguyễn Tri Phương chỉ cho mời y đến “thương lượng”( nhưng hắn từ chối).Có thể đây là chủ ý của Huế, nhưng điều này và việc để mất thành Hà Nội sẽ kể ngay sau đây, một lần nữa cho ta thấy nhà Nguyễn đã “ mất sức đề kháng” như thế nào.

Đến khi viên thiếu tá hải quân F. Garnier mượn cớ dẫn quân ra để dàn xếp vụ việc trên, tên quan Pháp nhanh chóng hội quân với Dupuis để đòi hỏi và làm nhiều điều ngang ngược khác nữa: như đòi đóng quân trong thành, đòi tổ chức việc thu thuế, cho quân đi bắt bớ, đánh đập, bức hiếp dân lành…

Quá bức xúc vì tình cảnh này, nên khi có lệnh bất hợp tác được ban hành, nhân dân và binh lính rất tích cực thực hiện: như  không ai chịu chỉ đường, mua bán tiếp tế với Pháp, các chợ không họp, đóng cọc ngăn chận tàu giặc đi lại trên sông, các giếng nước uống thường bị bỏ thuốc độc, kho thuốc súng của chúng mấy lần bị đốt cháy trong đêm…

Giữa lúc đội quân của thực dân lâm vào cảnh hết sức nguy khốn, y nhận được viện binh ( nhưng chắc cũng không bao nhiêu, vì tính đến ngày 20-11-1873, lực lượng trong tay của Garnier chỉ có 212 tên, kể cả lính người Việt, lính thợ. Còn vũ khí cũng rất ít, ngoài số súng có hạn, chỉ có 11 khẩu đại bác, hai tàu chiến và một tàu đổ bộ).

Lập tức vào ngày 16-11-1873, Garnier tự tiện tuyên bố mở cửa sông Hồng để tự do chuyên chở hàng hóa và buôn bán, thiết lập chế độ thuế quan mới. Rồi sáng ngày 19-11-1873, y còn đưa tối hậu thư buộc Nguyễn Tri Phương giải giáp quân đội, rút hết súng trên thành…Không cần đợi trả lời, sớm ngày hôm sau, y ra lệnh nổ súng…
Sử sách nào cũng nói, tình căng thẳng đã lâu, thế mà Nguyễn Tri Phương lại quá chủ quan: tin tưởng giặc không thể trở mặt và đánh sớm như vậy, nên việc cho binh lính luyện tập và bố trí canh phòng chểnh mảng, thiếu chu đáo.

Ta hãy đọc lại một đoạn báo cáo :“Quân địch( chỉ quân Việt) hoàn toàn bất ngờ. Bị nhiều đợt tấn công dồn dập, họ không biết điểm nào là điểm thực sự bị tấn công. Chúng tôi giải tỏa cầu khỏi những tấm chông bừa bãi khắp nơi mà không sợ đạn bắn.

Khi các pháo thủ An Nam trên thành lũy vào được vị trí thì chúng tôi đã ẩn được ở sát tường công sự. Những người phòng thủ chỉ còn cách ném đá xuống. trích bố  báo cáo của F. Garnier gửi cho Thống đốc Nam Kỳ).

Cho nên quân số trong thành có tới 7000 người, địch chỉ có một nhúm cỏn con mà thành chỉ giữ được hơn 1 giờ thì mất!

Đâu chỉ vậy, lợi dụng cơ hội F. Garnier còn đưa quân đi đánh chiếm nhiều nơi: như Hưng Yên, Phủ Lý, Hải Dương, Ninh Bình, Nam Định.(Ở Hưng Yên, quan chủ tỉnh Nguyễn Đức Đạt không dám đánh, chịu nhổ cọc cho thuyền giặc đi qua, chịu tuân lệnh của giặc- ở Ninh Bình, tuần phủ Nguyễn Thứ đem quân ra ngoài thành xếp hàng nghênh tiếp giặc vv…Đúng là những chuyện đáng cười ra nước mắt)

Thế rồi, trời bất dung gian, tên Garnier và tên Balmy cùng một số binh lính dưới quyền, lọt vào ổ phục kích của quân Cờ Đen và đều bị giết chết ( 21-12-1873).Nghe hung tin, đội quân của chúng ở Hà Nội vô cùng hoảng sợ và còn làm chấn động cả giới cầm quyền tại Sài Gòn.

Lúc này khí thế bên ta lên rất cao. Quân và dân Việt ráo riết bao vây thành Hà Nội. Đội quân Cờ Đen của Lưu vĩnh Phúc đã chuẩn bị hàng trăm chiếc thang dài để chuẩn bị công thành. Đại quân do Hoàng Kế Viêm, Trương Quang Đản chỉ huy tiếp tục tổ chức nhiều trận đánh tại Thường Tín , Gia Lâm…

Nhưng ngay chính lúc ấy, vua Tự Đức lại thốt những câu rất chủ bại:

“…Giết được An Nghiệp (Garnier) chỉ là kết quả nhất thời đột xuất, bằng đường đường chính chính tranh thắng với họ, tưởng cũng khó giữ lâu được…”

Thế là nhà vua “ngây thơ” ban lệnh không cho quân tiến công đánh vì sợ giặc phẫn nộ và chỉ thị cho Nguyễn Văn Tường mau chóng nói chuyện thương thuyết với họ.

Cuối cùng vào ngày 15-3-1874 tại Sài Gòn, đất nước ta nhận thêm hiệp ước Giáp Tuất gồm 22 điều khoản, trong đó có khoản  thừa nhận cho bọn xâm lược được cai quản toàn bộ Nam Kỳ…

Đúng là Tự Đức không những đã cứu thực dân một bàn thua trông thấy, mà còn dâng hiến miếng mồi hết sức béo bở cho đối phương!...

 


 

IX.Nói qua đôi chút về tình thế thời bấy giờ, để tạm lý giải vì sao quan quân nhà Nguyễn, trong số đó có Nguyễn Tri Phương, liên tiếp gánh thất bại trong công cuộc phòng chống xâm lăng ( phần này có thể gọi tên khác là: Vì sao nhà Nguyễn mất nước?)

1/Qua nhiều năm phân tranh, loạn lạc kéo dài, thiên tai nhiều phen, nạn sưu thuế cao, nạn tham nhũng, bóc lột của bọn cường hào, bọn quan lại biến chất cùng nếp sống xa hoa của chúng… nên đến thời Tự Đức, sức dân và nền nông công thương nưóc ta đều đã lạc hậu, đã suy kiệt.

Đình thần Trương Quốc Dụng tâu: “…tài lực của nhân dân nay không bằng 6/10 năm trước”.
Đến khi Pháp tấn công Đà Nẵng, Nguyễn Tri Phương cũng đã tâu rằng: “Quân và dân của đã hết, sức đã yếu”.


2/Không có chính sách sánh suốt và thích hợp để nuôi “sức dân”(nhất là giới nông dân: lực lượng chủ yếu dành cho sản xuất và quốc phòng), không lôi kéo được người dân tộc ít người, người dân theo đạo công giáo đứng chung đội ngũ:
Trong sử Việt, không có triều đại nào loạn lạc nhiều như triều Nguyễn. Đánh dẹp xong nơi này thì nơi khác mọc lên.

Vì sao vậy? Có nhiều nguyên do, nhưng tựu chung cũng bởi dân quá bần cùng vì nạn thuế sưu cao, vì nạn thiên tai gây mất mùa, vì nạn quan lại vừa tham nhũng vừa hà khắc, vì chính sách cấm đạo quá đáng và còn vì âm mưu muốn đồng hóa một số dân tộc ít người…
Chi tiết của vấn đề nhiều góc cạnh này, bạn đọc có thể tìm hiểu thêm trong sách sử.

3/Quân đội nhà Nguyễn không còn đủ mạnh như thời đánh nhau với nhà Tây sơn:

Nhiều sách sử viết về thời kỳ này cho biết: lính chính qui không quá một vạn, tinh thần thì sợ vũ khí khá hiện đại của giặc, đánh đấm còn theo thói cũ, vũ khí quá thô sơ; lương ăn áo mặc thảy đều thiếu thốn…

Đại thần Phạm Phú Thứ nhận xét:

“Quân sĩ hèn nhát là do chưởng quan bất tài và vô quyền. Quân sĩ nhiều người không có lương bổng, rất đói khổ, phải tìm cách giúp đỡ nhau chớ không trông mong gì đến gạo trong kho.
Quan võ thì thường than thở rằng mình hết sức chống giữ biên cương, rủi ra chết đi thì chỉ thiệt mình, chứ công trạng nào ai nghĩ đến cho…”


4/Trong tình cảnh như vậy mà nơi triều đình đa phần vua quan đều bất cập trước biến động của thời cuộc, không ngờ Pháp ở xa đến đánh chiếm; nên lúng túng trong cách suy nghĩ, phòng chống, ứng xử:

Nhà Nguyễn không chỉ bất cập trước biến động của thời cuộc trong những năm đầu khi Pháp nổ súng vào nước ta; mà vào năm 1870, triều đình Huế đã đánh mất hai cơ hội quí báu để cởi ách thực dân chỉ vì căn bệnh “khờ khạo và bạc nhược”:

-Năm 1870, Pháp bị Đức đánh thua xiểng niểng.Chiều ngày 1-9, hoàng đế Na-pơ-lê-ông III bị bắt cùng mười vạn binh, ngày 27-10, tất cả 173000 quân Pháp ở thành Mết-zơ đầu hàng.

Khoảng thời gian này, tin tức về cuộc thất bại  thật thảm hại này lan tới Sài Gòn, tới Huế. Soái phủ Nam Kỳ hoảng sợ vội vàng cho phòng bị nghiêm mật, vì e rằng Huế sẽ nhân cơ hội này để tổ chức phản công.
Cuối cùng, bọn chúng đã thở phào nhẹ nhõm khi nhận được “thơ hỏi thăm và chia buồn” của vua Tự Đức!

-Một cơ hội khác bị bỏ lỡ nữa, đó là lúc tư bản Pháp bị cuộc cách mạng vô sản nổi lên ở Pa-ri và phong trào công nhân mạnh lên ở nhiều tỉnh (năm 1871).
Tuy sau này Công xã Pa-ri thất bại, nhưng giai cấp tư sản Pháp còn phải vướng víu rất nhiều khi củng cố lại chính quyền, không còn đầu óc nào để lo cho một thuộc địa quá xa xăm…

5/Tại “sân nhà” mà nhà Nguyễn không dám đánh, luôn giữ “thế thủ” và đường lối “chủ hòa” thì làm sao không mất nước cho được:

Nói là “chủ hàng” thì đúng hơn; vì chỉ có chủ động tấn công, ta mới giành được ưu thế bất ngờ, và  ta cũng không cần đóng vai “quân tử Tàu” trong cung cách đánh với xâm lược (vũ khí của ta thô sơ, đạn dược kém mà lại đi đóng đồn, đánh nhau bằng trận địa chiến, không biết lưu động và ứng phó linh hoạt).
Nói rõ hơn, nghĩa là bằng mọi giá, mọi cách, mọi nơi ta phải làm sao để cầm chân, phân tán mỏng giặc ra và làm hao mòn sức lực của chúng thì mới có thể ít ra ngồi ngang hàng, ngang mặt tính chuyện thương lượng. 

Thêm nữa cũng vì căn bệnh “khờ khạo và suy nhược”vừa nêu trên, nhà Nguyễn không thể tạo được tiếng nói chung của mọi tầng lớp, không củng cố và phát huy được khả năng, tiềm lực, trí tuệ của dân tộc.
Vậy có thể nói sức đề kháng của dân tộc lúc bấy giờ vì sự lãnh đạo quá đổi non kém mà trở nên khá yếu ớt.


Nói đâu xa, ngay nơi triều đình sự non kém và yếu ớt, đã bộc lộ thật rõ nét:
Trong sách Dương sự thủy mạc có ghi mấy câu luận bàn rất ngô nghê, rất tức cười của triều thần khi giặc đã vào nhà rồi, tôi tóm gọn lại như sau để minh chứng:


-“chống giặc duy thủ là hơn. Họ và ta vốn không gần nhau, không thể thôn tín nhau. Chuyến này chúng đến chẳng qua là vì lợi. Lấy chủ đợi khách, nên dùng kế trì cửu để đợi họ mệt mỏi….Tự Đức cho là phải.”

- “Bấy lâu nay ta lạnh nhạt với họ, họ bị các nước láng giềng chê cười, cho nên đem quân đánh ta cho được hòa-”trích lời tâu của tướng Nguyễn Bá Nghi

Nói thêm về vị tướng này.Tuy ông cũng là người yêu nước, có tiết tháo như tướng Nguyễn Tri Phương; nhưng có lẽ vì không có cái nhìn toàn cục, không lường hết dã tâm và quá sợ hãi trước vũ khí của thực dân, nên ông đã đề ra đối sách với bọn thực dân sai lầm vô cùng.

Như từ ngày ông  nhận lệnh vào Nam để thay Nguyễn Tri Phương chỉ huy cuộc kháng chiến. Vừa xem xét tình hình xong, Bá Nghi đã gửi lời tâu liên tiếp về triều với ý rằng: “Giữ không tiện, đánh cũng không tiện”, “hòa thì mất ít, đánh thì mất nhiều”,”Pháp sở dĩ đánh ta vì ta lạnh nhạt với nó, nó đánh ta là để có hòa”,“đánh giữ đều không được, trừ một chước hòa, tôi chỉ còn chịu tội…” “Tôi không đắp đồn lũy nữa, không thu trưng binh nữa…kẻ địch xét thấy ý ta không trung thực, họ lâi càng thêm chém cắt hơn”

Nghe lời tâu , quá đổi “xụi lơ”, không chút nhuệ khí nào, ấy vậy mà vua Tự Đức còn buông ra những lời động viên quân tướng cũng rất đáng cười ra nước mắt: “Phải gắng sức, khéo dùng lời cảm hóa kẻ địch để họ kiêng nể mà nghe ta”( trích  Dương sự thủy mạc, khuyết danh, bản dịch của Khoa Sử, ĐHTH Hà Nội)…

Luận bàn vấn đề này, Gs Trần Văn Giàu đã có nhận xét trong Tổng tập, tôi tóm gọn lại như sau: Triều Nguyễn không dự kiến tình huống Pháp chiếm giữ nước ta.Vì họ cho nước Pháp xa Việt Nam lắm, họ không ở gần ta như nhà Minh , nhà Thanh…nên họ lấy nước ta làm gì, chẳng qua họ cần mấy thẻo đất để lập thương điếm, lập nhà thờ và để đòi bồi thường chiến phí thôi.

Bởi nhà Nguyễn mê muội như thế, nên ông chua chát viết thêm:

“Xứ ta vào những năm 1860-1862, quân Tây có bao nhiêu, có lúc chỉ có khoảng 300 tên.Chỉ cần một đội quân cảm tử không đông lắm, bằng dao găm đã có thể tiêu diệt chúng trong một đêm thì khí thế quân ta lên biết bao nhiêu!...”

Và gần đây, có ai đó còn nhớ chuyện đã u buồn, đại khái nói là Tây có một nhúm người mà chúng đô hộ ta cả trăm năm….
Đôi lời trách cứ này, thiết nghĩ thật đáng suy gẫm.

 




6/Thực tế cho thấy, triều đình nhà Nguyễn theo đuổi đường lối “bế quan tỏa cảng”, không nhanh chóng “canh tân” đất nước là không phù hợp với yêu cầu của xã hội và xu thế của thời đại.

Việt Nam và Trung Quốc vào thời buổi ấy gặp nhau ở điểm này: chọn đường lối “đóng cửa”, vẫn không ngăn được gót giày của bọn xâm lăng.

Vì sao vậy? Vì thế kỷ XIX, chủ nghĩa tư bản ở châu Âu đã phát triển ngày càng lớn mạnh.Và nước ta cùng như nhiều nước khác có hoàn cảnh tương tự, nhanh chóng nằm trong tầm ngắm của bọn thực dân tham lam trong kế hoạch xâm chiếm đất đai, giành giật thị trường và gây thanh thế ở khu vực…

Điều cốt lõi là cách ta “mở cửa” như thế nào để vừa bảo vệ được vương quyền, sự toàn vẹn của lãnh thổ, nền độc lập của dân tộc; vừa thỏa mãn được lợi ích của giới tư bản.

Bài học của vương triều Nhật Bản, theo tôi đến hôm nay vẫn nhiều điều đáng cho ta suy gẫm.

Một điều cốt lõi khác nữa là chỉ có “đổi mới”, mới có nhiều cơ hội, nhiều điều kiện để đưa đất nước nhanh chóng phát triển, nhanh chóng thoát cảnh đói nghèo, lạc hậu về mọi nhiều mặt

Lịch sử trên thế giới đã và đang cho ta thấy chỉ có con đường“dân giàu, nước mạnh” mới có thể bảo vệ được non sông, chủ quyền của dân tộc.

Và thật đáng trách, trước tình cảnh nước nhà nguy khốn khi ấy, một số quan lại, sĩ phu thức thời, tiến bộ mạnh dạn đưa ra nhiều đề nghị đổi mới đầy tâm huyết: như Nguyễn Trường Tộ, Phạm Phú Thứ, Nguyễn Đức Hậu, Nguyễn Tư Giản, Bùi Viện…nhưng tất cả đều không được triều đình Nguyễn thủ cựu nghe theo.

Phan Thanh Giản là một đại quan của nhà Nguyễn.Ông có dịp tận mắt nhìn thấy sự lớn mạnh của nền văn minh phương Tây, đã buồn bã viết:

Tự Thán

Từ ngày đi sứ tới Tây kinh,
Thấy việc Âu châu phải giật mình.
Kêu gọi đồng bang mau kịp bước,
Hết lời năn nỉ chẳng ai tin…

 

7/Các vua nhà Nguyễn luôn đặt ngôi báu lên hàng đầu, nên có thái độ thật “ích kỷ”, “sợ thù trong hơn sợ giặc ngoài”, nên dần dà trở thành tay sai ngày càng đắc lực cho thực dân.

Bởi lẽ ấy, khi đất nước bị lấn chiếm, họ không những dễ dàng nhân nhượng những đòi hỏi tham lam của thực dân, mà còn nhanh chóng quay lưng lại, thậm chí còn làm cản trở, làm sa sút thêm tinh thần chiến đấu chống lại bọn ngoại xâm của những con dân yêu nước.
Để chi vậy? Để họ rãnh tay đàn áp các cuộc nổi dậy, mà “ theo con số thống kê được thì trong 4 triều đại, từ Gia Long đến Tự Đức, có tới trên 400 cuộc.

Và tất cả đều bị đàn áp dã man” ( theo GS.Văn Tạo)

Và một tác giả khác cũng đã phê phán:

Sau “vết nhơ lịch sử”(Ca Văn Thỉnh đã gọi hòa ước Nhâm Tuất, năm 1862 như vậy), việc tệ hại tiếp theo là triều đình đã ra lệnh bãi binh, lại còn giúp thực dân truy lùng các thủ lĩnh kháng chiến.
Do vậy, có thể nói rằng “Pháp tấn công mà ta thủ hòa tất nhiên phải đi đến chuyện mất nước” và tất cả những việc làm mù quáng vừa kể trên còn là “một sự phản bội của Huế”(Trần Văn Giàu).

8/Nhận thấy đại bộ phận vua quan nhà Nguyễn, ngày càng thiếu sáng suốt, bất lực, cầu hòa, quay lưng lại với nhân dân. Không kể nhiều vụ loạn lạc đã xảy ra ở thời Tự Đức, ít nhất đã có 4 cuộc đảo chánh nhằm thay đổi ngôi vua:

-Đấy là âm mưu xảy ra khi Tự Đức vừa lên ngôi do Hồng Bảo là người anh con dòng thứ, cùng một số người muốn giành lại ngai vàng.Việc bại lộ, Hồng Bảo bị  tống giam rồi tự tử trong ngục.

-Năm 1864, xảy ra vụ nổi dậy của Hồng Tập, con hoàng thân Miên Áo, em chú bác của vua, cùng với một số người khác cùng phất cờ “Bình Tây sát tả”, lập kế hoạch giết Phan thanh Giản, Trần Tiến Thành, thay thế Tự Đức bằng một ông vua khác. Bại lộ, Hồng Tập và Nguyễn Văn Viện bị án chém.

- Vào năm 1866, do Đoàn Trưng là rể của Tùng Thiện Vương (tức là em rể họ của Tự Đức) đã nổi lên gây cuộc binh biến ( sử cũ gọi là giặc Chày Vôi) nhằm lập Hoàng tôn Ưng Đạo, con của Hồng Bảo lên ngôi. Tự Đức suýt bị giết và sau khi dập tắt cuộc bạo loạn, ông đã cho xử tử cả nhóm Đoàn Trưng và mẹ con Ưng Đạo (là chị dâu và cháu của ông).

-Hòa ước 1862 và 1874 gây bất bình trong cả nước.Ở Bắc cũng như ở Nam, đông đảo sĩ phu và người dân yêu nước tự động hợp thành phe “Văn thân”, mạnh nhất là ở Nghệ An, Hà Tĩnh do Trần Tấn, Đặng Như Mai làm thủ lĩnh. Họ giương cao ngọn cờ “Bình Tây diệt Triều”, tuy có chiếm được Hà Tĩnh, nhưng rốt cùng cũng bị quân triều đình dẹp tan…

Tất cả đều thất bại, vì sao? Vì họ có phần tự phát, nóng vội, thiếu đường lối và tổ chức. Và nhất là họ thiếu một gương mặt thật sáng giá, đủ tài đức, đủ sáng suốt để có thể qui tựu mọi lực lượng, mọi tầng lớp, mọi nơi cùng một lòng đứng dậy và kiên trì đi đến mục tiêu chung.

Bỏi không được vậy, nên ta thấy thực dân và phong kiến dễ dàng dẹp tan, bẻ gãy nhanh chóng những phe nhóm cứ nổi lên nhỏ lẻ nhằm chống đối bọn chúng...

Tôi tạm phân ra 8 lý do trên, cốt để dễ theo dõi, dễ đọc. Thực ra chúng đều có mối tương quan và ảnh hưởng lẫn nhau.

Nếu cần nói gọn hơn, tôi xin dẫn lời của PTS. Phan Minh Thảo:

“ Nguyên nhân chủ yếu thất bại của nhà Nguyễn là từ bên trong chứ trong phải là từ bên ngoài. Không phải đế quốc Pháp cùng vũ khí của họ quá mạnh mà vì chế độ nhà Nguyễn đã quá suy yếu, quá ruỗng nát và nhất là đã phản bội lại nhân dân, đất nước.

Trong hơn 50 năm trị vì, nhà Nguyễn không tạo dựng cho đất nước một tiềm lực quốc phòng đủ mạnh. Đến khi chiến tranh xẩy ra,Tự Đức chẳng những không có tinh thần quyết chiến mà còn có chủ trương hòa hoãn với giặc, vì nghĩ rằng thà nhân nhượng với chúng mà giữ được ngai vàng, tôn miếu…còn hơn đi với nhân dân quyết chiến thì có thể mất hết cơ đồ!”( Thử tìm hiểu vì sao nhà Nguyễn bị thất bại…Nxb KHXH. 1995, tr.2

 


 

X. Lời kết:

Ở bài thơ Điếu Nguyễn Tri Phương của Nguyễn Thiện Thuật bên trên có 2 câu thật hay, tôi xin chép ra đây nguyên văn cùng lời dịch:

Bách chiến gian nan năng bất tử
Nhất hòa cô tức tiện quyên sinh

(Dịch nghĩa:Trăm trận đánh gian nan, không thể làm cho ông chết được
Một cuộc hòa nhùng nhằng, khiến ông phải quyên sinh)

“Một cuộc hòa nhùng nhằng…”, chỉ cần mấy chữ vừa ghi bên, theo tôi đã đủ nói lên nguyên do của mọi thảm cảnh.Và hai câu thơ trên tuy đã dành để điếu Nguyễn Tri Phương, nhưng vẫn có thể dành để điếu Phan Thanh Giản và bất kỳ cho những ai đã hy sinh cho cuộc chiến lâu dài và buồn bã này.

Khi soạn bài, tôi biết được ngày trước không những Tự Đức cho cải tên mà còn có lần đã gửi áo ấm cho lão thần Nguyễn Tri Phương, khi ông đang trấn thủ thành Thăng Long vào những ngày tiết trời trở nên buốt giá: “áo này là áo ngự dùng trong mùa lạnh. Ta ban cho khanh để tỏ là người có công đức và tăng thêm vẻ quân dung...”.
Cả sách vỡ của đối phương cũng có nhắc đến ông:

Nguyễn Tri Phương dẫn binh về, đồ hành lý riêng ông, ông sai một tên quân máng trên ngọn kích là vài bộ quân y đã ngã màu vì trận mạc xông pha, đủ thấy ông không làm giàu nhờ chiến tranh và lòng hy sanh ái quốc của ông chỉ có quan phụ tá của ông là Phan Thanh Giản là so sánh được.

Về đức tánh liêm khiết bên làng văn quan cũng như bên võ quan, thì hai vị nầy, dẫu sử phương Tây cũng hãnh diện phô trương giữa cảnh tà tâm ô xú của hàng quan lại An Nam.( Alfred Schreiner trong sách Abre’ge’ de l’histoire d’An nam, tr 282-283. Vương Hồng Sển dịch).

Tuy rằng về việc quân, do nhận thức và khả năng có hạn chế,  do những lý do khách quan mà tôi đã nói bên trên, khiến ông chưa thể làm tròn trách nhiệm làm tướng chỉ huy của mình.

Bởi vậy theo tôi, Nguyễn Tri Phương là người gan dạ, liêm khiết, yêu nước nhưng không phải là vị tướng có nhiều tài năng, nhiều cơ mưu; cũng như vị vua của ông là Tự Đức chỉ được tiếng làm thơ hay, có hiếu với mẹ nhưng “anh minh” thì dường như có rất ít, nếu không muốn nói chẳng có chút nào!

Tuy nhiên sống mà vua quí, dân yêu, bè bạn thương, giặc kính nể…chẳng đáng làm gương và “hãnh diện phô trương, giữa cảnh tà tâm ô xú của hàng quan lại An Nam” hay sao?...

Bùi Thụy Đào Nguyên, soạn
Tái bút :

Bài soạn thể hiện ý muốn “ôn cố tri tân”. Vì lẽ đó trong bài soạn bạn đọc bắt gặp ít nhiều những cụm từ đại để như: “đáng lẽ ra”, “có lẽ nên”; hoặc đôi lời phiền trách…đó không phải là tôi gợi chuyện để xúc phạm người xưa, mà chỉ muốn cùng bạn đọc nhìn lại những gì được mất của hôm qua, để từ đó có thể rút ra những bài học bổ ích và thiết thực cho hôm nay và mai sau thôi.

Chân thành cảm tạ bạn đọc đã theo dõi bài và những tác giả mà tôi đã sử dụng tài liệu để trích dẫn.

Tài liệu tham khảo chính:

-Tổng tập của Gs Trần Văn Giàu, Nxb Quân đội nhân dân, năm 2006
-Web  Bảo tàng lịch sử quân sự Việt Nam, mục Nguyễn Tri Phương.
- Hỏi đáp lịch sử, tập 4 do nhóm nhân văn trẻ soạn, Nxb Trẻ, năm 2007
-Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim, Nxb Tân Việt, Sài Gòn năm 1968
-Dương sự thủy mạc, khuyết danh, bản dịch của Khoa Sử, ĐHTH Hà Nội
cùng vài tài liệu khác, tôi đã nêu tên trong bài.

Sưu tầm

Lần cập nhật cuối ( Thứ sáu, 01 Tháng 10 2010 06:59 )